Người phụ trách hậu cần của một tổ sản xuất thường là người đầu tiên nhận ra bộ đồ vải bạt khác bộ đồ vải mỏng ở chỗ nào. Không phải lúc phát hàng, mà lúc bộ đồ ướt.
Bộ quần áo lao động ở trang này may bằng vải bạt, mặt vải thô, sợi to, tay cầm thấy rõ trọng lượng. Bài dưới đây đi từ nhịp giặt và nhịp phơi của cả tổ, vì đó mới là chỗ loại vải này bộc lộ tính nết của nó.
Bộ đồ ngậm nước nặng bao nhiêu thì lịch giặt phải đổi bấy nhiêu
Vải bạt hút nước chậm nhưng nhả nước cũng chậm. Một bộ vừa giặt xong nặng hơn hẳn lúc khô, và cái nặng ấy dồn hết vào dây phơi. Tổ nào phơi chung một dàn thì số bộ treo được trên mỗi mét dây giảm xuống, kéo theo cả lịch quay vòng.
Hệ quả thực tế: nếu vẫn giữ nhịp giặt của loại vải mỏng thì tới ca sau sẽ có người phải mặc bộ chưa khô hẳn. Cách xử lý nằm ở khâu xếp lịch chứ không nằm ở bộ đồ, và nó thường chỉ cần dời giờ giặt sớm lên nửa buổi.
Bộ thứ hai không phải hàng dự phòng, nó là một phần của nhịp
Với loại vải khô chậm, bộ thứ hai chuyển vai trò: từ chỗ để phòng khi rách thành chỗ để giữ nhịp giặt. Người phụ trách hậu cần tính được số bộ cần theo một phép rất đơn giản, lấy số ngày một bộ đi trọn vòng giặt phơi rồi nhân với số người trong tổ.
Phép đó cho ra con số lớn hơn nhiều người nghĩ. Và nó giải thích vì sao có tổ mua đủ số người mà vẫn thiếu đồ vào mùa mưa.
Dày là cảm nhận của bàn tay, không phải một cấp đã được thử
Đây là chỗ dễ hiểu sai nhất về vải bạt: mặt vải thô và nặng khiến người ta tin rằng nó chịu được mọi thứ cọ xát. Độ dày là thứ sờ thấy ngay; còn khả năng chịu mài mòn là một cấp chỉ có nghĩa khi đã đưa mẫu vào máy thử theo một quy trình xác định và có biên bản kèm theo. Bộ đồ mặc hằng ngày như trang này không mang cấp đó, và không thay được món hàng nào có cấp đó.
Chỗ mòn trước thường không phải chỗ dày nhất mà là chỗ cọ nhiều nhất: mép bàn thao tác ăn vào cẳng tay, thành thùng ăn vào hông, quai vác ăn vào vai. Dấu hiệu sớm là sợi tơi ra và mặt vải hơi xù, xuất hiện trước khi thủng khá lâu, đủ để kịp đưa bộ đó ra khỏi vòng.
Ba dòng ghi lại để mùa sau khỏi tính lại từ đầu
Dòng thứ nhất ghi số ngày trung bình một bộ đi hết vòng giặt phơi trong mùa khô và trong mùa mưa. Dòng thứ hai ghi chỗ nào của tổ mòn trước, kèm tên vị trí làm việc. Dòng thứ ba ghi số bộ đã phải thay giữa chừng.
Ba dòng đó đủ để đợt đặt sau không phải đoán. Khi cần bổ sung, chọn tiếp trong nhóm quần áo bảo hộ cấp phát cho công nhân xưởng; nếu tổ chỉ thiếu phần thân trên thì xem riêng các mẫu áo bảo hộ lẻ theo thân, còn khi mùa mưa kéo dài thì phần chân cần tính cùng lúc với ủng bảo hộ đi trong xưởng ẩm. Một điểm cần nói rõ: độ bền kéo đứt và độ bền xé của vải là số liệu phòng thử, hệ thống bán hàng không lưu, nên khi hồ sơ nội bộ đòi đúng hai con số ấy thì phải hỏi thẳng nhà cung cấp và xin bản in.