Đầu năm, xưởng dành hẳn một buổi cho việc đo cỡ chân, và buổi ấy làm ở phòng ăn chứ không làm ở kho. Tổ đo cỡ đầu năm kê hai dãy ghế đối nhau, giữa lối là một cái bàn dài trải sẵn bảng chấm cỡ chân. Người tới lượt ngồi xuống, bỏ dép, đặt bàn chân lên tấm ván có vạch sẵn. Việc đóng lại trong một dòng: đọc số vạch lên cho người cầm bút nghe rồi mới rút chân về. Đọc ngay lúc chân còn đặt trên ván thì mất thêm một nhịp thở, còn rút chân xong mới nhớ lại thì phải đo thêm lần nữa.
Bảng chấm cỡ chân dựng ra sao
Tấm bảng chia làm ba khối: khối bên trái ghi tên và tổ, khối giữa ghi số vạch của từng bàn chân, khối bên phải chừa cho lời dặn riêng. Khối bên phải hay kín chữ hơn cả, bởi chuyện cần nhớ thường gắn với một người cụ thể. ủng bảo hộ cao cổ đo thử trước khi ghi, và người thử phải đứng dậy đi vài bước trong lúc còn mang. Chân trái với chân phải hiếm khi cho ra cùng một vạch, nên bảng để hai ô riêng chứ không gộp một. Đo đủ đầu người và chấm đúng vào ô của người ấy là hai việc khác hẳn.
Cỡ nào hay đo hụt
Hụt nhiều nhất là những người đo vào cuối buổi, khi ai nấy đã sốt ruột và bàn chân thì đã đứng suốt cả sáng. Bàn chân buổi chiều nở hơn bàn chân buổi sớm, đó là điều tổ đo cỡ nhắc nhau mỗi năm. Số vạch chấm trên bảng và số vạch đo lại sau vài tuần thường lệch nhau chút ít. Chỗ lệch ấy đến từ giờ đo chứ không đến từ cái ván. Trong buổi ấy giày bảo hộ đo cùng buổi, nên hai nhóm số nằm trên hai tấm bảng khác nhau cho khỏi rối.
Bảng chấm cỡ không đụng ba điều
Ba điều nằm ngoài tấm bảng: bảng năm ngoái dài bao nhiêu dòng, người cầm bút hôm nay là ai, một buổi đo được mấy chục người. Tổ đo cỡ cố tình không kéo ba điều ấy vào, vì tấm bảng này dùng để tra cỡ của một người, không dùng để khoe buổi đo chạy nhanh tới đâu. Có năm phòng hành chính đề nghị thêm cột đếm đầu người theo giờ, thử một mùa rồi bỏ, do cột ấy làm người đo vội tay. Bảng chấm cỡ nói chân người ấy rơi vào vạch nào, còn vạch ấy nên chọn ra món nào thì bên đặt hàng mới quyết.
Đo xong bảng ấy treo chỗ nào
Cuối buổi, bảng được cuộn lại, buộc bằng dây vải rồi treo lên móc trong phòng vật tư, ngay chỗ ai đi ngang cũng thấy. Bản chụp lại bằng điện thoại gửi cho tổ trưởng từng tổ, còn bản gốc thì ở lại trên móc suốt năm. Trong phòng ấy ủng cao su để riêng một kệ, và người mới hay nhầm hai khu nên trên móc có dán thêm một mẩu giấy chỉ đường. Người đo và người được đo kể lại buổi sáng hôm ấy theo hai lối riêng, vì thế mép bảng có chỗ cho hai chữ ký. Đợt sau mở lại từ chính tấm bảng treo trên móc này, không ai dựng bảng mới từ tờ trắng.