Trong góc kho, cạnh chỗ để thang, có một chồng đồ cũ xếp lên nhau, gấp phẳng phiu, không rách chỗ nào. Không ai nhớ chúng về từ đợt nào, cũng không ai biết chúng đã qua bao nhiêu lượt giặt. Người kiểm kê cuối năm mở sổ ra, thấy cột số lượng khớp, rồi đóng sổ lại. Chồng đồ ấy vẫn nằm trong tài sản của kho, và về mặt giấy tờ thì mọi thứ đều ổn.
Chỗ của mã này trên bảng so
Chỗ của mã HQD0013 trên bảng so nằm ở bậc giữa, trên các bản mỏng và dưới những bộ đủ món dùng cho vị trí nặng. Nó là một bộ đã qua nhiều lượt giặt ở phần lớn các kho mà nó có mặt, bởi nó thuộc dòng SKCA11 của Salisbury và hay được cấp cho tổ làm việc thường xuyên. Chính vì được cấp nhiều, nó cũng là mã bị đưa đi giặt nhiều nhất, và số lượt giặt mới là thứ định đoạt tuổi của nó. Trong kho đồ mặc ngoài cấp phát cho tổ thao tác điện, đây là mã có số bản luân chuyển lớn nhất. Một mã luân chuyển nhiều thì hồ sơ của nó phải dày lên, chứ không phải mỏng đi. Thực tế thường ngược lại: mã nào cấp nhiều thì càng ít ai theo dõi từng bộ. Chúng bị gộp thành một dòng tổng trong sổ, và một dòng tổng thì không nói được bộ nào còn dùng được. Đó là lý do việc kiểm đếm nhóm hàng này khác hẳn việc kiểm đếm quần áo làm việc thường.
Đếm bằng lượt, không đếm bằng năm
Một bộ đồ mặc ngoài không già đi theo tờ lịch treo tường. Nó già đi theo số lượt giặt, số lượt phơi nắng, số lần bị dầu mỡ bám vào rồi tẩy ra. Hai bộ mua cùng một ngày, một bộ nằm yên trong tủ và một bộ đi theo tổ trực, sau một năm đã là hai món hàng khác nhau hẳn. Con số cần nhất lại là con số mà sổ kho không có cột dành cho số ấy: số lượt giặt bên sản xuất khuyến nghị trước khi thải. Con số ấy nằm trong tài liệu của bên làm ra tấm vải, không nằm trong bảng chào và cũng không nằm trong biên bản nhận hàng. Không có nó thì việc loại bỏ trở thành cảm tính, và cảm tính thì luôn nghiêng về phía giữ lại. Giữ lại một bộ đã hết tuổi thì đỡ tốn hơn việc sắm bộ mới, nên người ta giữ. Cách gỡ duy nhất là ghi lượt ngay từ bộ đầu tiên, ghi vào lúc trả đồ về kho chứ không ghi vào lúc kiểm kê. Ghi lúc kiểm kê là ghi lại từ trí nhớ, và trí nhớ của cả một tổ thì không dùng được. Mỗi bộ vì thế cần một mã riêng, dán ở chỗ không bong ra khi giặt.
Một cuộc kiểm đếm làm thế nào cho ra kết quả
Kiểm đếm nhóm hàng này gồm ba phần, và phần dễ nhất là phần đếm số lượng. Phần thứ hai là soát tình trạng từng bộ bằng mắt và bằng tay, ở chỗ đủ sáng, mở hết khoá và trải phẳng ra. Người soát nhìn đường khâu, nhìn khoá kéo, nhìn miếng dán cổ tay, rồi nhìn phần vai và phần khuỷu vì đó là hai chỗ mòn trước. Phần thứ ba là đối chiếu từng bộ với sổ, và đây là phần hay bị bỏ nhất. Một bộ có mặt trong kho mà không có dòng nào trong sổ thì phải coi là không rõ lai lịch, dù nó trông còn mới. Phần chân nên soát trong cùng buổi, bởi giày ủng dành cho người đứng trước thiết bị mang điện có lịch soát riêng và hay lệch pha với lịch của bộ đồ. Cũng nên xem đồ đeo tay của thợ điện có ngày thử lại ghi trên nhãn trong cùng đợt, vì nhóm ấy có mốc hết hạn rõ ràng hơn hẳn bộ đồ. Đợt kiểm đếm nào cũng nên khép lại bằng một danh sách loại bỏ có chữ ký, chứ không khép lại bằng một con số tổng.
Chỗ dừng của một bộ đã cũ
Nó nhận phần nhiệt thay cho da, và nhận được đến đâu thì tuỳ lớp vải còn lại. Ranh giới của cả nhóm hàng nằm đúng ở đó: còn lành không đồng nghĩa với còn hạn dùng, bởi vòng đời đếm bằng số lượt giặt chứ không đếm bằng vết rách. Không dòng nào ở đây bảo chứng số lượt giặt còn lại của một bộ cụ thể. Nguy cơ nằm ở hệ thống điện, không nằm ở tủ quần áo, nên một đợt kiểm đếm gọn gàng cũng không làm công việc trước tủ bớt nguy hiểm. Trước bộ đồ vẫn là cắt điện, cô lập rồi xác nhận đã hết điện, và trình tự ấy không đổi dù kho đầy hay kho vơi. Thứ quyết định phần này là sổ theo dõi vòng đời từng bộ đồ của kho, không phải cảm giác của người mở tủ. Việc làm được ngay sau đợt kiểm đếm gần nhất là một sổ theo dõi vòng đời cho từng bộ, có mã riêng.