A903 bán kèm lời hứa chống đọng sương, và lời hứa đó chỉ đúng trong điều kiện nhất định
Kính bảo hộ Honeywell A903 được giới thiệu với đặc điểm chống đọng hơi sương, đây cũng là lý do chính khiến người mua chọn mã này thay vì một chiếc kính gọng thông thường. Điều cần hiểu ngay là chỉ tiêu chống đọng sương được đánh giá trong điều kiện phòng thử, và điều kiện phòng thử khác rất xa hiện trường.
Điểm mấu chốt nằm ở cách phép thử được thiết kế. Theo quy định trong tiêu chuẩn của hệ Bắc Mỹ, phép thử chống mờ chỉ đo trên mắt kính rời, không đánh giá cả bộ kính đã lắp hoàn chỉnh. Nghĩa là kết quả nói lên chất lượng lớp phủ trên bề mặt tròng, chứ không nói lên việc chiếc kính có mờ hay không khi đeo lên mặt một người đang thở, đổ mồ hôi và đội mũ.
Hệ quả thực tế: hai nhà máy mua cùng một mã kính có thể cho hai kết luận trái ngược, một bên khen không mờ còn một bên phàn nàn mờ liên tục. Khác biệt không nằm ở chiếc kính mà nằm ở vi khí hậu tại vị trí làm việc. Đó là điều phải xử lý trước khi đổ lỗi cho sản phẩm hoặc đổi sang mã đắt hơn.
Bốn yếu tố hiện trường quyết định kính có mờ hay không
Yếu tố thứ nhất là chênh lệch nhiệt độ khi di chuyển. Người đi từ kho lạnh ra khu vực nóng ẩm, hoặc từ phòng máy lạnh ra ngoài trời buổi trưa, sẽ gặp hiện tượng hơi nước ngưng tụ ngay trên bề mặt tròng vì bề mặt đang lạnh hơn không khí xung quanh. Không lớp phủ nào loại bỏ hoàn toàn hiện tượng vật lý này, chúng chỉ làm nước trải thành màng mỏng thay vì đọng thành hạt.
Yếu tố thứ hai là luồng khí quanh mặt. Vị trí làm việc có quạt hoặc có luồng gió tự nhiên thổi qua sẽ khô nhanh hơn hẳn góc kín không có đối lưu. Yếu tố thứ ba là các thiết bị đeo kèm: khẩu trang đẩy hơi thở lên trên tròng, mũ trùm giữ nhiệt quanh đầu, tấm che mặt tạo buồng kín. Yếu tố thứ tư là cường độ lao động, vì mồ hôi và nhịp thở tăng theo mức gắng sức.
Từ bốn yếu tố trên suy ra giới hạn của A903: nó không giải quyết được việc mờ do đeo cùng khẩu trang trong không gian kín và tĩnh gió, không thay thế được việc bố trí quạt hút cục bộ, và không dùng được cho các nhiệm vụ vốn đòi hỏi kính kín như thao tác với hoá chất hay bụi mịn. Kính gọng vẫn hở hai bên và phía dưới dù lớp phủ tốt tới đâu.
Kiểm chứng lớp phủ trước khi đặt lô lớn
Bước đầu là yêu cầu bên bán ghi rõ tên lớp phủ chống mờ được áp dụng cho lô hàng, kèm tài liệu kỹ thuật tương ứng. Nhiều mã kính có nhiều phiên bản: bản thường và bản có lớp phủ, hình dáng bên ngoài giống hệt nhau. Không ghi rõ trên đơn thì rất dễ nhận về bản không có lớp phủ mà không ai phát hiện cho tới khi công nhân phàn nàn.
Bước thứ hai là thử tại chính vị trí sẽ dùng, không thử ở phòng hành chính. Cho ba người thử đeo trong nửa ca ở đúng vị trí, đúng bộ trang bị kèm theo, ghi lại thời điểm bắt đầu mờ và mờ ở vùng nào. Nếu mờ tập trung ở mép dưới thì nguyên nhân là hơi thở và cần xử lý ở khâu khẩu trang; nếu mờ đều cả tròng thì nguyên nhân là chênh nhiệt và độ ẩm chung của khu vực.
Bước thứ ba là tính định mức riêng. Lớp phủ chống mờ có tuổi thọ ngắn hơn lớp chống xước và hỏng chủ yếu do lau chùi sai cách, nên kính bản chống mờ cần thay sớm hơn kính thường ở cùng điều kiện. Đặt định mức bằng nhau cho hai loại là nguyên nhân khiến các tổ dùng bản chống mờ luôn ở tình trạng thiếu hàng vào cuối chu kỳ.
Khi nước không còn trải thành màng, A903 đã hết tác dụng chống mờ
Cách kiểm nhanh nhất là hà hơi vào mặt trong của tròng rồi quan sát. Lớp phủ còn tốt sẽ khiến hơi nước trải ra thành màng gần như trong suốt và tan nhanh. Lớp phủ đã hỏng khiến hơi nước đọng thành vô số hạt li ti và tròng trắng đục trong nhiều giây. Đây là phép thử tại chỗ, không cần dụng cụ, và nên đưa vào bước kiểm định kỳ hàng tháng.
Ngoài ra vẫn cần soi các dấu hiệu quen thuộc: mạng xước gây loá ngược sáng, nhựa gọng ngả màu và giòn, đệm mũi chai làm kính tụt xuống. Riêng với bản có lớp phủ, cách bảo quản là yếu tố quyết định tuổi thọ: chỉ rửa bằng nước sạch và lau bằng khăn sợi nhỏ ẩm, tuyệt đối không dùng cồn, xăng thơm, nước lau kính xe hay dung dịch chứa amoniac vì các chất này bóc lớp phủ chỉ sau vài lần.