Người hỏi về KLT00001 thường đang đứng trước một bảng treo còn mười bốn móc trống giữa ca cao điểm, lúc cả xưởng chờ một dây chuyền dừng hẳn. Bản ghi của trang đặt nó ở nhánh bảng treo cỡ lớn: một tấm bảng treo có hai mươi vị trí móc. Nó chìa ra hai mươi cái móc và đứng yên, sau đó là chuyện của người khác. Nó không đếm hộ ai số thợ sẽ trèo lên máy. Cái bẫy nằm ngay trong con số ấy, bởi nhiều móc hơn chưa chắc kéo theo nhiều người: cái móc chỉ biết chờ, còn người thì phải tự bước tới mà lấy. Phần kê đầu trang có vài dòng ngắn, và chẳng có dòng nào nói tới người sẽ đứng trước tấm bảng.
Ca cao điểm và mười bốn cái móc trống
Một lần dừng máy lớn kéo nhiều tổ vào cùng lúc: tổ điện, tổ cơ khí, tổ vệ sinh công nghiệp, thỉnh thoảng thêm một nhà thầu ngoài. Theo lệ, mỗi người có mặt sẽ treo một chiếc ổ của riêng mình lên bảng rồi giữ chìa trong túi tới khi xong việc. Người phụ trách hay nhìn số móc trên bảng rồi yên trí, trong khi con số phải đếm lại là số đầu người sẽ có mặt sáng hôm ấy. Trùng nhau thì may; lệch nhau thì bảng hoặc thừa hoặc hụt, và chiều nào cũng phiền. Thừa thì mấy cái móc cuối dãy nằm không suốt năm. Hụt thì có người đứng chờ, hoặc tệ hơn, có người bỏ luôn bước treo ổ vì hết chỗ. Biên bản dừng máy không kê tới con số ấy: nó viết cho phần thiết bị, không viết cho phần người. Lối làm ngược lại gọn hơn nhiều, chỉ cần mở bảng phân công của lần dừng máy gần nhất ra và đếm đầu người.
Ba việc xong trước khi treo bảng lên
Việc thứ nhất: đếm đầu người của lần dừng máy đông nhất năm ngoái. Việc thứ hai: hỏi tổ trưởng xem có nhà thầu ngoài nào hay vào cùng đợt không, bởi nhóm ấy hiếm khi có tên trong bảng phân công nội bộ. Câu hỏi rơi ra ngoài bản ghi là số thợ đông nhất từng cùng khoá một máy, tức đúng con số dùng để chọn cỡ bảng. Việc thứ ba: chọn chỗ treo sao cho người vừa bước vào khu vực đã trông thấy bảng, khỏi phải đi vòng. Có ba câu trả lời trong tay rồi thì hàng khoá loto đang bày trên trang trở nên dễ chọn hẳn. Những thứ đi kèm cũng nên có chỗ cất, và tủ đựng đồ an toàn trong xưởng gánh phần việc mà tấm bảng treo bỏ lại. Ngay tại khu vực ấy, băng keo dán nhãn cảnh báo viết thành chữ cái điều mà một chiếc móc trống chỉ ngụ ý.
Con số bản ghi bỏ trống
Số ổ ghi trên bảng chưa lần nào được đối chiếu với số thợ thật. Không có sức chịu của móc, không có số lần tháo lắp, và chuyện tổ mấy người thì vừa thì tuyệt nhiên vắng mặt. Số người thật sự phải treo ổ trong một lần dừng máy mới là cái đứng vào đúng khe hở đó. Con số ấy nằm ở bảng phân công của chính đơn vị chứ không nằm tại trang bán. Đếm một lượt, chép lại, và những lần dừng máy sau khỏi phải đếm nữa.
Vạch cuối của một hàng móc
Một tấm bảng hai mươi móc chỉ giữ chỗ cho những chiếc ổ đang treo trên nó, và một tấm bảng thì không rút ngắn hộ ai một lần dừng máy, cũng chẳng đếm hộ ai số thợ sẽ trèo lên máy. Chỗ này không đi kèm một phép thử nào, và cái xoay chuyển chuyện này là số người thật sự phải treo ổ trong một lần dừng máy. Thứ nằm dưới mọi dòng trên là bảng phân công của xưởng, không phải mấy chữ số đi kèm mã hàng. Đáng làm trước hết ở đây là một lần đếm đầu người của tổ sẽ khoá máy, gọn trong một buổi giao ca.