Một nhà máy vận hành mười lăm năm thường có ba, bốn thế hệ tuyến cáp chồng lên nhau dưới sân bãi, mỗi lần cải tạo lại thêm một nhánh mà bản vẽ thì nằm rải rác ở nhiều bộ hồ sơ. Băng báo hiệu cáp điện lực ngầm trong đất là lớp thông tin cuối cùng còn lại dưới lòng đất khi hồ sơ giấy thất lạc, nên cách chọn và cách ghi chép nó ảnh hưởng trực tiếp tới việc quản lý tài sản ngầm về sau.
Ba lớp đánh dấu của một tuyến cáp được quản lý tốt
TCVN 9208:2012 tách rõ hai việc khác nhau. Điều 9.2 yêu cầu đánh dấu tuyến cáp ngầm ở mỗi nơi tuyến đổi hướng và sau mỗi khoảng 25 m dọc theo đoạn cáp chạy thẳng bằng cọc đánh dấu. Điều 9.3 mô tả cọc đó là cọc bê tông hình hộp chữ nhật, đáy vuông 100 x 100 mm, cao 300 mm, chôn thẳng đứng ngập trong đất 200 mm, trên đỉnh cọc dọc theo đường chéo hình vuông có mũi tên sơn đỏ chỉ hướng đi của tuyến. Lớp thứ hai là vật che phủ đánh dấu ngay trên cáp theo điều 9.4. Lớp thứ ba là bản vẽ hoàn công. Cuộn băng báo hiệu chỉ gánh được lớp thứ hai, và chỉ phát huy tác dụng khi hai lớp còn lại cũng được duy trì.
Sổ theo dõi tuyến ngầm nên có những cột nào
Với doanh nghiệp quản lý nhiều tuyến trong khuôn viên, một bảng theo dõi đơn giản đã đủ dùng: mã tuyến, cấp điện áp, năm thi công, chiều dài, độ sâu thiết kế, loại băng đã rải, vị trí cọc mốc và số hiệu bản vẽ hoàn công. Nên bổ sung cột ghi khoảng cách giữa các sợi cáp vì TCVN 9208:2012 điều 9.7 và 9.8 nêu khoảng hở 100 mm cho hạ áp, 250 mm cho trung áp và không nhỏ hơn 250 mm giữa tuyến trung áp với tuyến hạ áp. Khi có đội ngoài vào đào, cột thông tin này quyết định việc chỉ cần đào tay hay phải cắt điện toàn tuyến. Bảng nên được cập nhật ngay sau mỗi lần cải tạo, không để dồn tới kỳ kiểm kê cuối năm.
Chọn quy cách băng theo cách quản lý chứ không theo thói quen
Vì hệ thống tiêu chuẩn trong nước chưa quy định khổ băng, chiều dày màng hay nội dung chữ in, quy cách nên được suy ra từ chính cách doanh nghiệp quản lý tuyến. Tuyến chạy dưới bãi xe container cần khổ băng rộng hơn tuyến chạy dọc bồn hoa vì bề rộng gầu đào lớn hơn. Tuyến nhiều nhánh rẽ nên in kèm mã tuyến hoặc tên trạm để người đào nhận ra ngay là nhánh nào. Con số cụ thể lấy từ công bố của nhà sản xuất, ghi vào phần yêu cầu kỹ thuật của đơn hàng và lưu lại cùng bản vẽ để lần cải tạo sau còn đối chiếu được.