- Tiêu chuẩn: NIOSH - Khi được trang bị thích hợp, giúp bảo vệ hô hấp khỏi formaldehyde và các hơi hữu cơ nhất định. - Được dùng kèm với mặt nạ nguyên mặt và nửa mặt series 6000, 7000, FF-400 - Ứng dụng: Được sử dụng trong nhiều ứng dụng, bao gồm phòng thí nghiệm, chế biến gỗ, sản xuất thảm, và sản xuất kim loại chính.
Lá đơn viết tay, chữ to, đặt trên bàn tổ trưởng vào sáng thứ hai. Nội dung đúng một dòng: đeo vào vẫn ngửi thấy mùi, đề nghị đổi hàng. Bên mua đọc xong thì gọi cho bên bán, bên bán bảo gửi trả lại để kiểm. Cả hai bên đều đang trả lời một câu hỏi chưa ai đặt cho đúng.
Mã này hay bị kêu ca vì một lý do không phải lỗi của nó
Mã MNA0013 hay bị kêu ca vì một lý do không phải lỗi của nó. Nó là cái hộp ăn nhóm hơi bốc lên từ keo, gỗ dán và lớp sơn phủ, ký hiệu 6005 của 3M. Nhóm hơi ấy có một đặc điểm gây rắc rối: mũi người bắt được nó ở nồng độ rất loãng. Loãng tới mức thấp hơn nhiều so với ngưỡng mà nó bắt đầu gây hại. Nghĩa là ngửi thấy mùi chưa chắc đã là có chuyện, mà không ngửi thấy cũng chưa chắc là không. Trong quầy hộp lọc dùng cho xưởng dán và xưởng phủ, mã này bị trả lại nhiều nhất. Trang này im lặng về nhóm hơi mà nó ứng với, và sự im lặng ấy là có chủ ý. Thứ cần có để cắt hẳn loại khiếu nại này là dấu hiệu cho biết phải thay, ghi bằng lời chứ không bằng cảm giác, mà lá đơn của người đeo không trả lời được câu ấy. Không có dòng ấy thì mỗi người tự đặt ra một ngưỡng riêng, và các ngưỡng ấy không so được với nhau.
Bốn nguyên nhân của cùng một lời phàn nàn
Cùng một câu đeo vào vẫn ngửi thấy mùi có ít nhất bốn nguyên nhân, và chỉ một trong bốn là lỗi hàng. Nguyên nhân thứ nhất là hở: không khí đi vòng qua rìa chứ không đi qua hộp. Nguyên nhân thứ hai là hết: lớp ruột đã đầy và hơi đi thẳng qua. Nguyên nhân thứ ba là sai nhóm: cái hộp đúng là hộp thật, nhưng nó không dành cho thứ đang bốc lên ở đó. Nguyên nhân thứ tư là mùi bám: mùi còn dính trên quần áo, trên tóc, trên chính cái vỏ hộp. Mùi bám là nguyên nhân hay gặp nhất và cũng dễ bị hiểu nhầm nhất. Một bộ đồ đã ngấm hơi thì đi tới đâu mang mùi tới đó, nên nơi làm việc có hơi đậm cần cả bộ đồ mặc ngoài cho khu có hơi dung dịch đậm và một chỗ thay đồ riêng. Chỉ khi loại xong ba nguyên nhân kia thì mới nên nghĩ tới chuyện trả hàng. Ba nguyên nhân ấy loại xong trong một buổi, và không phải gửi gì đi đâu.
Viết một dấu hiệu thay bằng lời
Dấu hiệu phải thay nên viết thành câu, dán trong tủ, và ai đọc cũng hiểu như nhau. Câu thứ nhất: thấy nặng hơn khi hít vào so với hôm đầu thì thay. Câu thứ hai: ngửi thấy mùi quen thuộc của xưởng trong lúc đang đeo đúng cách thì thay ngay trong ca. Câu thứ ba: hết số giờ đã ghi trong sổ thì thay, kể cả khi chưa thấy gì. Ba câu ấy dựng trên một ranh giới: hết mùi không đồng nghĩa với hết chất, bởi cái mũi có ngưỡng riêng cho từng chất và ngưỡng ấy không trùng với ngưỡng gây hại. Vì thế câu thứ ba mới là câu nặng ký nhất, dù nó là câu ít ai thích nhất.
Chỗ dừng của một hộp lọc nhóm hơi keo dán
Nó giữ lại nhóm hơi bốc lên từ keo, gỗ dán và sơn phủ. Nó không dập được nguồn phát ra mùi. Lớp ruột chỉ ăn được phần hơi trôi qua nó, không ăn phần hơi còn lại trong phòng; nó không mang thêm không khí vào phòng, không giải quyết được gì khi dưỡng khí trong gian tụt đi, và ở tình huống ấy thì bình khí thở đeo sau lưng cho người phải ở lại mới là câu trả lời. Trước nó là việc đậy thùng keo, hút ngay tại bàn dán và mở gió chéo qua xưởng. Cái đứng phía sau mọi câu trên là phiếu ghi nhận khiếu nại của người đeo, đọc theo tuần. Việc nên làm trước khi đổi hàng là một cuộc hỏi lại người đeo, đặt trước cuộc đổi hàng.