Đây là lưới nhập khẩu từ Nhật Bản, bện đều tay, mép hoàn thiện gọn và có kích thước danh nghĩa rõ ràng theo từng tấm. Với người mua, câu hỏi đầu tiên không nên là mua bao nhiêu mét vuông, mà là tấm lưới sẽ được treo theo kiểu nào trên kết cấu hiện có.
EN 1263-1:2014 mô tả bốn hệ. Hệ S là lưới có dây viền, kích thước nhỏ nhất tối thiểu 35 m², nếu là lưới chữ nhật thì cạnh ngắn nhất tối thiểu 5,0 m. Hệ T là lưới gắn trên console hoặc bracket, dùng theo phương ngang. Hệ U là lưới gắn vào khung hay kết cấu đỡ, dùng theo phương đứng. Hệ V là lưới có dây viền gắn vào giá đỡ kiểu cần.
Hệ lắp đặt quyết định phụ kiện, cách đo và cả cách nghiệm thu, nên chọn sai hệ thì mọi thứ mua sau đó đều lệch. Một chi tiết cần biết với thị trường Việt Nam: lưới hệ S nhỏ hơn 35 m² hoặc có cạnh ngắn dưới 5,0 m nằm ngoài phạm vi tiêu chuẩn và do quy định quốc gia điều chỉnh, trong khi phần lớn đơn hàng thực tế lại là tấm nhỏ.
Lưới treo đứng và lưới căng ngang không đổi vai cho nhau
Lưới treo theo phương đứng phục vụ việc che chắn mặt ngoài: giữ vật văng ngang, ngăn mảnh vụn rơi ra khỏi phạm vi công trường, hạn chế bụi bay sang khu vực lân cận. Nó không được thiết kế để hứng một người rơi thẳng đứng, vì hướng lực và cách truyền lực về khung đỡ hoàn toàn khác.
Lưới căng theo phương ngang mới là lưới hứng người. Với hệ này, mọi thông số đi kèm mới có ý nghĩa: bề rộng hứng, độ võng ban đầu, khoảng cách điểm neo, khoảng trống bên dưới. Khi nhà cung cấp chào một tấm lưới, câu cần hỏi là tấm này được công bố cho hệ nào chứ không phải nó bền bao nhiêu.
Ba việc không được làm với cả hai kiểu treo: không lấy khung đỡ hay console làm điểm neo cho dây đai của người, không cắt bớt lưới cho vừa khoang vì cắt là phá dây viền và phá luôn đường truyền lực, và không nối hai tấm bằng dây tự chế. Phương tiện tiếp cận vị trí treo cũng phải chuẩn bị trước, xem tại thang tiếp cận vị trí căng lưới.
Hàng nhập khẩu: xuất xứ không thay được hồ sơ
Bốn tài liệu nên yêu cầu ngay trong đơn đặt hàng: công bố hệ lắp đặt và cấp lưới, kích thước danh nghĩa của từng tấm, danh mục phụ kiện neo tương ứng với hệ đó, và hướng dẫn lắp đặt đã dịch sang tiếng Việt. Thiếu tài liệu thứ ba là tình huống hay gặp nhất, dẫn tới việc tổ thi công tự chế kẹp neo.
Một điểm cần kiểm khi đọc hồ sơ: không tồn tại bản EN 1263-1:2018. Bản EN hiện hành là EN 1263-1:2014 cho yêu cầu an toàn và phương pháp thử, cùng EN 1263-2:2014 cho giới hạn định vị. Nếu tài liệu ghi một năm khác thì nên hỏi lại nhà cung cấp xem đó là bản quốc gia chấp nhận hay là lỗi ghi chép.
Về số lượng, nên đo từng khoang tại hiện trường rồi đặt theo tấm thay vì đặt theo tổng diện tích, vì lưới ghép từ nhiều mảnh nhỏ không tương đương một tấm đúng cỡ. Danh mục cỡ và kiểu treo có thể tham khảo trong lưới an toàn theo bốn hệ lắp đặt trước khi chốt đơn.
Điểm neo và dây viền: nơi tấm lưới thật sự chịu lực
EN 1263-2:2014 tại điều 5.2 đưa ra các con số dùng để tính toán: khoảng cách giữa các điểm neo phải nhỏ hơn 2,5 m; khi tính từng điểm neo, tải đặc trưng dùng để tính tối thiểu là 6 kN ứng với chiều cao rơi 6,0 m, với góc giả định của tải là 45 độ; còn khi tính khung đỡ thì chỉ xét ba tải đặc trưng 4 kN, 6 kN và 4 kN đặt theo phương án bất lợi nhất.
Vì lực dồn về dây viền và các điểm buộc, đó là hai chỗ phải soi mỗi lần điều chỉnh lưới chứ không đợi tới kỳ kiểm định. Cần tìm đoạn dây viền sờn hoặc tưa, chỗ bị kẹp neo ép bẹp, kẹp neo cong vênh, và các mắt sát mép bị kéo méo. Hư hỏng ở vùng biên luôn nghiêm trọng hơn hư hỏng ở giữa tấm.
Tháo lưới xuống khi dây viền đứt, khi nhiều mắt liền kề đã rách, khi mất nhãn nhận dạng hoặc mất mắt thử, và khi lưới đã hứng một người rơi. Mua đúng hệ ngay từ đầu giúp tránh khoản tốn kém âm thầm nhất trong hạng mục này là mua lại lần hai vì tấm cũ không lắp được vào kết cấu thực tế.