Một mã dùng chung cho cả xưởng: tiết kiệm ở đâu và trả giá ở đâu
Gộp nhiều nhóm việc vào một mã găng là quyết định rất phổ biến và không sai về nguyên tắc. Nó rút bớt số dòng trong danh mục, giảm số lần đặt hàng, tăng sản lượng mỗi lần đặt nên thường lấy được mức giá mềm hơn, và làm khâu cấp phát ở kho gọn đi thấy rõ.
Phần trả giá nằm ở chỗ khó nhìn hơn. Một mã dùng chung phải đủ tốt cho nhóm việc nặng nhất, nghĩa là nó thừa so với nhóm việc nhẹ nhất. Phần thừa ấy nhân với số người và số ngày trong năm là khoản không nhỏ, nhưng không hiện lên đâu cả vì mọi thứ vẫn chạy êm.
Chiều ngược lại còn đáng lo hơn. Nếu mã chung được chọn theo nhóm việc nhẹ để tiết kiệm thì nhóm việc nặng đang thiếu trang bị mà không ai nhận ra, cho tới khi có sự việc xảy ra. Quyết định gộp hay tách vì thế nên dựa trên con số chứ không dựa vào thói quen cũ.
Nhóm việc mà một mã đa năng phủ được và nhóm phải tách ra
Một mã đa năng phủ tốt các nhóm việc cùng tính chất: khô ráo, tương đối sạch, va chạm từ nhẹ tới trung bình và không có tác nhân nào được nhận diện. Đó thường là phần lớn số vị trí trong một nhà xưởng. Xem thêm găng vải dùng chung cho nhiều nhóm việc nhẹ.
Phải tách ngay khi xuất hiện một trong các yếu tố sau: tác nhân hoá học đã gọi được tên, cạnh sắc, nhiệt kéo dài, yêu cầu giữ sạch cho sản phẩm, hoặc khu vực có quy định riêng. Mỗi yếu tố này đều đòi một bộ bằng chứng khác nhau mà một mã chung không thể mang đủ.
Riêng phần nhiệt cần lưu ý: một mã có chữ chịu nhiệt trong tên vẫn phải được kiểm bằng chính công đoạn của xưởng, vì tên gọi không thay thế được phép thử. Khi rà lại toàn bộ, xem danh mục bảo hộ tay rút gọn theo nhóm việc để biết mình đang thiếu nhóm nào.
Ba phép tính quyết định nên gộp mã hay nên tách mã
Phép tính thứ nhất: lấy chênh lệch giá giữa mã chung và mã chuyên dụng, nhân với sản lượng tiêu thụ của nhóm việc nhẹ trong một năm. Con số đó là phần đang trả thừa mỗi năm, và thường lớn hơn nhiều so với hình dung ban đầu của bộ phận mua hàng.
Phép tính thứ hai: ước lượng chi phí quản lý thêm một mã, gồm số lần đặt tăng lên, số dòng kiểm kê, số vị trí kệ và thời gian của người cấp phát. Nếu kết quả phép tính thứ nhất nhỏ hơn phép tính thứ hai thì việc gộp mã đang là lựa chọn đúng.
Phép tính thứ ba không quy ra tiền được nhưng buộc phải xét: nhóm việc nặng có đang bị hạ cấp trang bị hay không. Nếu câu trả lời là có thì phải tách, bất kể hai phép tính trước cho kết quả thế nào. Đây là ranh giới không thương lượng được bằng chi phí.
Cất giữ khi một mã đi khắp xưởng và dấu hiệu phải loại
Khi một mã được phát đi mọi nơi thì kho nên chia theo tổ nhận chứ không chia theo mã, để còn biết nhóm nào đang tiêu thụ nhiều. Cất ở khu khô thoáng và phát theo tuần, vì phát theo tháng làm mất luôn khả năng nhận ra một tổ đang dùng vượt mức bình thường.
Dấu hiệu phải loại: lòng bàn tay bết cứng, thủng ở đầu ngón, chỉ may bung, mùi ẩm mốc không hết sau khi giặt, và vết ố sém nếu đôi găng từng chạm vào bề mặt nóng. Riêng vết ố sém phải ghi lại vào sổ, vì nó cho biết mã chung đang bị dùng vượt ra ngoài phạm vi.
Ghi nhận đó chính là dữ liệu để rà lại quyết định gộp mã sau mỗi quý. Danh mục vật tư gọn là điều đáng theo đuổi, nhưng gọn tới mức che mất một nhóm rủi ro thì lợi ích thu về không còn cân xứng với phần đang đánh đổi.