Khi duyệt mua thiết bị che mặt cho tổ hàn, người ký thường chỉ nhìn một con số duy nhất là số tiền trên báo giá. Con số đó dễ so sánh nên được dùng, nhưng nó chỉ mô tả thời điểm mua. Phần lớn cái mà doanh nghiệp thực sự trả cho một chiếc mặt nạ lại rải đều suốt những năm nó nằm trong xưởng.
Hai kiểu mặt nạ, hai cấu trúc chi phí khác nhau
Loại dùng kính lọc cố định có cấu tạo đơn giản, ít chi tiết hỏng, nhưng buộc thợ phải nhấc lên hạ xuống hoặc đổi kính khi chuyển việc. Loại tự đổi màu phức tạp hơn, có phần điện tử cần chăm sóc, đổi lại thợ giữ nguyên tầm nhìn giữa các lần mồi hồ quang.
Trước khi vào phép tính, phải cắm một cọc mốc: mọi so sánh chi phí chỉ được diễn ra giữa các phương án cùng đạt mức bảo vệ mà công việc đòi hỏi. Hạ mức che xuống để tiết kiệm không phải là tiết kiệm, đó là chuyển khoản chi từ sổ sách của doanh nghiệp sang mắt của người thợ, và khoản đó không bao giờ ghi lại được.
Những khoản không nằm trên hoá đơn nhưng vẫn phải trả
Khoản thứ nhất là tấm lót và tấm lọc thay định kỳ. Đây là dòng chi lặp lại đều đặn và tăng theo cường độ làm việc của tổ. Nhiều nơi không tách riêng dòng này nên nó chìm vào mục vật tư chung, khiến so sánh giữa hai kiểu mặt nạ mất luôn phần quan trọng nhất.
Khoản thứ hai là thời gian thao tác bị mất. Mỗi lần nhấc mặt nạ lên rồi hạ xuống chỉ mất vài giây, nhưng nhân với số lần trong một ca và số thợ trong tổ thì thành con số đáng kể. Cách đo đơn giản là đứng cạnh một ô hàn trong một tiếng và đếm.
Khoản thứ ba là sửa lại mối hàn hỏng do thợ định vị sai lúc mồi. Khoản này khó quy trách nhiệm nên hầu như không ai gán nó cho thiết bị che mặt, nhưng nó có thật và thường lớn hơn cả hai khoản trên cộng lại ở những tổ làm mối ngắn liên tục.
Quy về một đơn vị chung là giờ hồ quang
Cách so sánh chạy được là chia tổng chi phí của cả vòng đời cho số giờ hồ quang mà chiếc mặt nạ phục vụ. Giờ hồ quang lấy từ nhật ký sản xuất hoặc ước lượng theo lượng que và dây hàn tiêu thụ, không cần thiết bị đo nào thêm.
Phép tính này chỉ chạy được khi bên bán điền hai ô còn đang trống: tuổi thọ khuyến nghị của thiết bị và chu kỳ thay tấm lót ứng với điều kiện làm việc. Hệ thống chưa lưu hai thông tin đó cho mã hàng, nên chúng phải được yêu cầu bằng văn bản trước khi ký hợp đồng khung.
Khi có đủ hai ô, bảng so sánh chỉ còn ba dòng cho mỗi phương án và một người làm kế toán vật tư dựng xong trong buổi sáng. Kết quả thường gây bất ngờ theo cả hai chiều, vì thứ tự xếp hạng theo giá mua và theo giờ hồ quang không phải lúc nào cũng trùng nhau.
Khi nào chọn kính lọc cố định vẫn là quyết định đúng
Với tổ hàn làm đường dài trên cùng một loại vật liệu, mức che không đổi suốt ca, kiểu kính lọc cố định vẫn cho chi phí trên giờ hồ quang rất thấp. Thêm nữa, kiểu này không có phần điện tử nên loại bỏ hẳn một nhóm hỏng hóc khỏi bảng rủi ro vận hành.
Ngược lại, tổ làm mối ngắn, đổi vị trí liên tục hoặc hàn nhiều loại vật liệu trong ca thì phần thời gian và phần sửa mối hỏng đủ lớn để nghiêng cán cân sang loại tự đổi màu. Quyết định vì thế nên gắn với đặc điểm công việc của từng tổ chứ không ra một chính sách chung cho cả xưởng.