Dòng hàng hao hụt nhiều nhất trong kho, và lý do không phải mất trộm
Trong danh mục vật tư của một nhà xưởng, găng vải thường là dòng có chênh lệch lớn nhất giữa số lượng xuất kho và số lượng thật sự đi vào công việc. Chênh lệch ấy hiếm khi do mất trộm. Nó đến từ một lý do đơn giản hơn nhiều: hàng rẻ nên không ai buồn ghi lại.
Ba nguồn hao hụt quen thuộc. Thứ nhất là phát nguyên bó cho tổ trưởng rồi tổ trưởng chia lại mà không ghi. Thứ hai là người thao tác giữ sẵn vài đôi trong ngăn bàn cho chủ động. Thứ ba là găng còn dùng được bị hót lẫn vào rác lúc dọn ca, chỉ vì không có chỗ nào để trả về.
Thiệt hại không nằm ở khoản tiền của riêng dòng hàng này mà nằm ở chỗ mọi con số định mức đều mất giá trị. Khi không biết một tổ thật sự dùng bao nhiêu đôi mỗi tháng thì không so được hai nhà cung cấp, không đánh giá được một mẫu mới, và không chỉ ra được chỗ nào đang lãng phí.
Việc mà găng vải làm được và ba việc nó không làm được
Găng vải phục vụ nhóm việc khô, tương đối sạch và chỉ có va chạm nhẹ: bốc xếp thùng hộp, xếp kho, lắp ráp cơ khí nhẹ, cầm chi tiết có gờ nhám, làm vườn, dọn mặt bằng. Nó giữ bàn tay khỏi trầy xước, dằm gỗ và bụi bám. Xem thêm găng vải cấp phát hằng ngày cho tổ sản xuất.
Ba việc nó không làm được cần nói thẳng. Không có cấp chống cắt nên không dùng ở nơi có lưỡi dao, mảnh kính hay mép tôn. Không chắn hoá chất vì vải thấm chứ không chặn. Không chống đâm xuyên. Chọn đúng nhóm thì xem các nhóm trang bị che chắn bàn tay theo mức rủi ro.
Còn một giới hạn nữa ít được nhắc: khi vải ướt thì phần lớn ưu điểm mất theo. Găng sũng nước trở nên nặng, trơn tuột và truyền nhiệt nhanh hơn nhiều so với lúc khô. Không ít vụ tuột tay và bỏng nhẹ bắt nguồn từ việc cố dùng nốt một đôi găng vải đã ngấm nước từ đầu ca.
Đóng lỗ hao hụt bằng đơn vị phát và điểm hoàn trả
Việc đầu tiên là đổi đơn vị phát. Phát theo đôi cho từng người có tên trong sổ, không phát theo bó cho cả tổ, kể cả khi thao tác đó tốn thêm vài phút mỗi sáng. Vài phút ấy đổi lại một con số dùng được, còn cách cũ thì không đổi lại được gì ngoài sự tiện tay.
Việc thứ hai là dựng một điểm hoàn trả: chỉ cần một thùng có nhãn đặt ở lối ra của khu vực, để găng còn dùng được không bị bỏ lẫn vào rác lúc dọn ca. Người dọn có chỗ bỏ vào thay vì phải tự phán đoán món nào còn dùng được, món nào thì không.
Việc thứ ba là chốt số theo tuần chứ không theo tháng. Chu kỳ tuần đủ ngắn để mọi người còn nhớ chuyện vừa xảy ra. Sau chừng hai tháng, đơn vị đã có một đường tiêu hao thật để ngồi làm việc với nhà cung cấp, thay vì đưa ra con số ước chừng từ trí nhớ.
Cất giữ, giặt lại và những dấu hiệu sờn báo phải thay
Nên cất nơi khô thoáng và không nén chặt trong bao kín, vì vải còn ẩm nằm trong bao sẽ sinh mốc và mùi rất nhanh. Hàng mới nhập xếp phía trong, hàng cũ đẩy ra ngoài để dùng trước. Găng đã giặt phải khô hẳn cả phần cổ dày mới được xếp chồng lên nhau trong kệ.
Dấu hiệu thay nhìn được bằng mắt: mặt vải ở lòng bàn tay mỏng và bóng lên, sợi dệt thưa tới mức soi lên thấy ánh sáng xuyên qua, đầu ngón sờn thành xơ, chỉ may bung ở kẽ ngón, và vết dầu thấm sâu giặt mấy lần vẫn còn. Có hai trong số này là đủ để loại.
Một đôi găng vải giá thấp nhưng khi được quản lý bằng con số thì nó trở thành khoản chi có thể dự báo và cắt giảm được. Đó là điểm khác nhau giữa một dòng vật tư trôi nổi và một dòng vật tư nằm trong tầm kiểm soát của bộ phận mua hàng.