Móc nhôm nhẹ hơn, và cái giá của sự nhẹ nằm ở khả năng chịu mài mòn
Bộ Kukje một móc nhôm được chọn nhiều vì trọng lượng. Với người phải leo lên xuống nhiều lượt trong ca, chênh lệch khối lượng giữa móc nhôm và móc thép cảm nhận được rất rõ, và thiết bị nhẹ thì người lao động ít viện cớ bỏ ra.
Về số công bố, tiêu chuẩn châu Âu về bộ phận nối đặt ra mức cường độ tối thiểu giống nhau cho móc, không phân biệt vật liệu; một chiếc móc nhôm đạt chuẩn vẫn phải qua đúng những phép thử như móc thép. Nghĩa là nhẹ không đồng nghĩa với yếu ở thời điểm xuất xưởng.
Khác biệt nằm ở quá trình sử dụng. Nhôm mềm hơn thép nên bề mặt bị bào mòn nhanh hơn khi cọ vào kết cấu cứng, và vết mòn tích luỹ theo từng ca chứ không xuất hiện sau một sự cố duy nhất. Đây mới là tiêu chí thật khi chọn giữa hai vật liệu, chứ không phải con số ghi trên nhãn.
Nối vào đâu thì được, và ở đâu nên đổi sang móc thép
Móc nhôm phù hợp khi điểm neo là vòng chờ chuyên dụng, thanh nhẵn hoặc chi tiết được thiết kế làm điểm neo, và khi móc không phải tì lên cạnh nhám trong lúc chịu tải. Điều kiện chung vẫn phải giữ: móc đóng và khoá hoàn toàn, lắc thoải mái trong chỗ bám để tự nắn theo phương lực.
Hiệp hội làm việc trên cao của Anh khuyến cáo không dùng móc nhôm nối vào điểm neo bằng thép, và cảnh báo rằng điểm neo có cạnh nhám tạo ra chuyển động kiểu cưa cắt vào thân móc, làm thiết bị yếu đi nghiêm trọng. Với công trường Việt Nam, những chỗ như dầm thép gỉ, đầu bu lông hay mép cấu kiện chưa mài đều thuộc nhóm này.
Và ranh giới không thay đổi bất kể vật liệu: điểm neo phải là chỗ được người có thẩm quyền duyệt là chịu nổi lực, không phải lan can, không phải ống dẫn, không phải thang. Nếu hiện trường chưa có điểm neo hợp lệ thì phải xử lý phần neo trước khi phát bộ đai an toàn Kukje cho người lao động.
Chuẩn hoá vật liệu móc theo khu vực làm việc
Cách quản lý gọn nhất là chia khu vực chứ không chia theo người. Khu vực có kết cấu nhẵn, có vòng neo chuyên dụng thì dùng móc nhôm để giảm mệt mỏi. Khu vực có nhiều thép thô, cạnh nhám, môi trường ăn mòn thì chuyển sang móc thép và chấp nhận nặng hơn.
Việc phân khu nên ghi thành bảng ngắn dán tại kho phát thiết bị, kèm mã hàng tương ứng cho từng khu. Người phát chỉ cần nhìn khu vực ghi trên phiếu công việc là biết lấy bộ nào, không phải phán đoán.
Khi đặt lô, hãy hỏi nhà cung cấp cả hai phương án vật liệu cho cùng một cấu hình đai, để sau này bổ sung không bị lệch chuẩn. Danh mục đầy đủ theo từng cấu hình có thể xem trong nhóm dây đai an toàn và bộ phận nối cho công trường.
Dấu hiệu mài mòn trên móc nhôm và ngưỡng phải bỏ đi
Trên móc nhôm, hư hỏng thường bắt đầu ở ba vị trí: lòng móc nơi tiếp xúc với điểm neo, mũi cổng nơi khớp với thân, và vùng quanh chốt xoay. Rà ngón tay dọc lòng móc để tìm rãnh mòn, chỗ dẹt hay ba via; những dấu vết này thường nhận ra bằng tay trước khi thấy bằng mắt. Người kiểm nên đeo găng tay bảo hộ mỏng khi rà bề mặt kim loại để tránh xước tay bởi ba via.
Cùng với đó, kiểm ống khoá xem còn xoay được và tự bật lại chỗ cũ ban đầu khi thả, kiểm cổng có thẳng hàng với mũi, kiểm đủ rivet và ống, kiểm nhãn còn đọc được. Hiệp hội làm việc trên cao nêu rõ bộ phận nối không sửa chữa được, nên mọi phát hiện đều dẫn tới cùng một kết luận là thay mới.
Loại bỏ khi lòng móc mòn thành rãnh rõ, có ba via hoặc vết nứt, thân biến dạng, cổng không tự đóng khoá, ống khoá kẹt, bề mặt ăn mòn rỗ, hoặc thiết bị đã tham gia chặn một cú rơi. Chọn đúng vật liệu móc theo khu vực làm việc giúp giảm hẳn số lần thay thế ngoài kế hoạch và giữ chi phí trang bị an toàn trong dự toán năm.